Hôm qua Trung Quốc, hôm nay Hồng Kông, ngày mai Việt Nam?
Tâm Don * Tác giả gửi bài trực tiếp cho VNTB Bạn trẻ Việt nam đến từ Australia, Nguyễn Hoàng Thanh Tâm phát biểu lúc 8:30 tối 02/10 tại Hong...
https://itdl-flatnews.blogspot.com/2014/10/hom-qua-trung-quoc-hom-nay-hong-kong.html
Tâm Don
* Tác giả gửi bài trực tiếp cho VNTB
25 năm trước và 25 năm sau
Hơn 25 năm trước, trên quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc đã diễn ra một sự kiện làm rung chuyển thế giới. Sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc mãi mãi là khúc ca bi tráng về khát vọng tự do, dân chủ của nhân dân Trung Quốc nói chung, và của tầng lớp trí thức-sinh viên Trung Quốc nói riêng. Nếu một ngày nào đó, dân chủ và tự do được thiết lập ở Trung Quốc, cần minh xác một điều rằng, chính sự kiện Thiên An Môn là tác nhân quan trọng đầu tiên xác lập thiết chế dân chủ và tự do đó.
Hơn 25 năm sau, tại Hongkong- một lãnh thổ của Trung Quốc được thu hồi về vào năm 1997, một vùng đất tô nhượng vốn được chính quyền Anh quốc thiết lập một nền dân chủ đầy đủ, đang diễn ra một sự kiện Thiên An Môn thứ hai để bảo vệ các giá trị tự do và dân chủ cao cả của Hongkong, để chống lại các áp đặt độc tài chuyên chế tàn bạo của chính quyền cộng sản Bắc Kinh. Cuộc chiến dai dẳng giữa khát vọng nhân bản và ước muốn phi nhân vẫn chưa có hồi kết, nhưng những khuôn mặt trẻ măng đầy thánh thiện ở Hongkong, những dải ruy băng vàng rực trên xứ sở có truyền thống dân chủ và tự do này đã mang lại cho Hongkong, cho chính nhân dân Trung Quốc, cho chính nhân dân Việt Nam những niềm hi vọng về tương lai dân chủ.
Tại sao Việt Nam?
Hôm qua Trung Quốc, hôm nay Hongkong, ngày mai Việt Nam? Rất nhiều người dân Việt Nam đang hỏi thầm mình như vậy, hỏi nhau như vậy. Hỏi và hi vọng, và chờ đợi. Trong hi vọng và chờ đợi nhiều câu hỏi đã này sinh.
Tại sao Việt Nam, một đất nước, một chính thể có rất nhiều nét tương đồng với Trung Quốc chuyên chế lại chưa nổ ra một sự kiện Thiên An Môn tương tự? Và, bao giờ Việt Nam bùng phát một Thiên An Môn long trời lở đất để có thể dẫn đến một sự thay đổi tích cực?
Đối với câu hỏi thứ nhất, không thể dùng các luận thuyết ưu việt của thể chế dân chủ để trả lời. Việt Nam trong thời hiện đại có những hoàn cảnh lịch sử éo le và bi đát hơn Trung Quốc láng giềng, và xa hơn là các nước tuân theo ý thức hệ cộng sản ở Đông Âu. Vì thế chỉ có thể giải đáp câu hỏi thứ nhất bằng chính những hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.
Giai đoạn trước năm 1975, trong khi người dân miền Nam Việt Nam đã được thụ hưởng những thành quả đầu tiên của nền dân chủ sơ khai, thì nhân dân miền Bắc Việt Nam với não bộ được tẩy xóa đậm đặc vẫn tuyệt đối tin tưởng vào ánh hào quang của chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến bách thắng, vào ảo vọng của những huyền thoại vu vơ. Dưới sự lãnh đạo và cai trị cứng rắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân miền Bắc Việt Nam quá bận bịu với cuộc chiến ý thức hệ – cuộc nội chiến Bắc – Nam, họ hoàn toàn không bận bịu về các giá trị tự do và dân chủ. Một Thiên An Môn đã không diễn ra ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975 là một điều dễ hiểu.
Năm 1975, sau khi miền Bắc đánh bại thể chế dân chủ miền Nam, Việt Nam bước vào một thời kỳ khổ đau không kém các đau khổ quằn quại trong cuộc chiến vừa chấm dứt không lâu. Giai đoạn này có thể được phân ra 10 năm với mốc 1976-1986. Với sự giáo điều mù quáng của lý luận Marx-Lenin, với sự cứng rắn đến cực đoan và tàn bạo, chính thể cộng sản Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp phi nhân trên toàn miền Nam như thực hiện chính sách cải tạo, đánh tư sản và xóa tan các định ước kinh tế thị trường đầy sức sống để thay vào đó bằng nền kinh tế tập thể-nhà nước vô trách nhiệm. Các đau đớn và quằn quại liên tiếp xuất hiện, bất hạnh nối tiếp bất hạnh.
Nhưng, một Thiên An Môn vẫn không xuất hiện trên toàn cõi Việt Nam. Vì sao? Vì, đối với những người cộng sản và những người có liên quan mật thiết đến cộng sản ở Việt Nam, họ vẫn còn bị huyễn hoặc về các chiến thắng chống Pháp, chống Mỹ, chống PolPot và Khmer đỏ, chống bành trướng Trung Quốc. Các chiến thắng đó với sự tô vẽ và tô hồng của một bộ máy tuyên truyền khổng lồ đã làm cho đa phần người dân Việt Nam, nhất là người dân miền Bắc vẫn có một niềm tin lớn vào lý tưởng cộng sản, tin vào các giá trị và phẩm chất của Đảng Cộng sản Việt Nam dù nhiều người dân, nhiều trí thức đã phần nào nhận ra những sai lầm của đảng cộng sản, nhưng đối với họ đó là những sai lầm mang tính nhất thời và giai đoạn.
Nhưng, trong giai đoạn 1976-1986 này, nhiều người dân miền Nam Việt Nam đã nhận thức đúng đắn về những cay đắng mà chính thể cộng sản đã mang đến cho họ. Họ đã phản kháng bằng những cuộc di cư bi phẫn và đau đớn, đó là phong trào thuyền nhân – vượt biên bi thảm nhất của nhân loại với khoảng 700 ngàn người chết đói – chết khát và chết đuối trên biển. Cuộc di cư bi phẫn đi tìm tự do và dân chủ chứ không phải đi tìm những ham muốn đời thường và bản năng đã làm cho thế giới văn minh bàng hoàng và chính thể Việt Nam bối rối.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự hả hê của những người sở hữu súng đạn và sự buồn đau của những người sở hữu khát vọng tự do dân chủ đã không thể trở thành đồng minh để có thể làm nên một Thiên An Môn.
Giai đoạn 1987-1993 ở Việt Nam là buổi giao thời đầy dông bão. Đa phần người dân Việt Nam tin tưởng vào công cuộc cải tổ và đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Kết quả bước đầu của công cuộc đổi mới đã phần nào xoa dịu vết thương lòng của người dân. Từ đói khổ cùng cực, người dân đã có đủ miếng cơm tấm áo, họ tạm thời quên đi những cay đắng tột cùng do ý thức hệ cộng sản mang lại, họ tạm hài lòng với cuộc sống.
Nhưng trong giai đoạn này ở Việt Nam, ý thức phản kháng, ý thức phản tỉnh của người dân Việt Nam đã tăng lên đáng kể bằng các phương thức bất mãn, yếm thế và trào lộng. Trong giai đoạn này đã ghi nhận sự phản kháng mang tính hệ thống và khoa học của một trào lưu tư tưởng mới mẻ thể hiện qua các bài viết, bài nói chuyện được lưu hành và lưu truyền bí mật của các nhà cấp tiến Trần Phương, Trần Độ, Nguyễn Minh Cần, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Hộ, Hà Sĩ Phu… Những con người dũng cảm này sẵn sàng chia tay ý thức hệ, sẵn sàng dắt tay nhau đi dưới ánh sáng chỉ đường của ngọn cờ trí tuệ (mượn chữ của Hà Sĩ Phu). Đây là buổi giao thời của nhận thức, của những định đoán về giá trị thực sự của dân chủ tự do và chủ nghĩa cộng sản. Có vẻ như, trong giai đoạn này, tầng lớp tinh hoa của Việt Nam đã nhận thức được rằng, dân chủ là đích đến của loài người nói chung và Việt Nam nói riêng trong khi đại đa số người dân Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho một cuộc chia tay ý thức hệ. Vì lẽ trên, một Thiên An Môn đã không diễn ra.
Trong giai đoạn 1994-2005, Việt Nam có những thành tựu to lớn, vượt bậc về phát triển kinh tế với tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức cao, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) đạt mức cao và hợp lý, thu nhập bình quân trên đầu người tăng mạnh…., đã phần nào làm dịu lại mọi hoài nghi về bản chất của chủ nghĩa cộng sản và nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về vai trò độc tài-độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhưng sự hội nhập quốc tế đã mở toang cánh cửa nhận thức. Trong giai đoạn này, người dân Việt Nam lần đầu tiên được mở rộng tầm nhìn qua các chuyến xuất ngoại (theo dạng du lịch, thăm thân nhân, giao thương….) đã tự nhiên đặt ra nhiều câu hỏi: Tại sao Việt Nam lại quá nghèo so với Thailand, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore lân cận, chưa kể là quá nghèo và bất hạnh so với Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Thực tiễn sống động đã đưa đến cho người dân Việt Nam một nhận thức quan trọng: chỉ có giá trị và phẩm chất của thể chế dân chủ mới tạo nên sự thịnh vượng, hạnh phúc và hùng mạnh, còn ảo tưởng chủ nghĩa cộng sản-chủ nghĩa xã hội chỉ đưa đến đói nghèo-bất hạnh và đau đớn.
Nhưng, Thiên An Môn của Việt Nam vẫn không xảy ra trong giai đoạn này vì nhận thức chân lý diễn ra không đồng đều giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng dân số địa lý Bắc – Nam, vì các chính sách “bàn tay sắt” được lồng ghép thâm độc với các trò mị dân của chính quyền, vì sự hài lòng với hiện trạng no ấm của người dân.
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2014, Việt Nam sôi sục trong các vấn đề kinh tế-chính trị và xã hội. Về kinh tế, hết sức bất ổn với tăng trưởng GDP thấp, lạm phát cao, thu nhập bình quân trên đầu người giảm xuống thấp, tiêu thụ sụt giảm mạnh. Tình trạng xã hội có nhiều bất an, tội phạm tàn độc tăng trưởng đột biến, tham nhũng tràn lan, khoảng cách giàu nghèo được kéo dãn vô cùng. Về chính trị, có vẻ như nhà cầm quyền đã phần nào nhận thấy sự lúng túng về phương pháp luận của một ý thức hệ đã lỗi thời kéo theo đó là sự xung khắc của các nhóm quyền lực, các nhóm lợi ích, các nhóm cấp tiến và bảo thủ… Lòng người Việt Nam xáo động và bất an hơn bao giờ hết.
Trong giai đoạn này, sự phát triển như vũ bão của các công nghệ mới, của Internet, của các mạng truyền thông xã hội đã có tác động tích cực đến nhận thức của người dân, từ tinh hoa đến cấp tiến và phần nào là tầng lớp bình dân. Thực tại cuộc sống khó khăn trăm bề và nhận chân giá trị về dân chủ-cộng sản đã tạo nên những giá trị mới, những đòi hỏi mới về dân sinh-dân chủ-dân quyền-thoát Trung-thoát Cộng. Người dân Việt Nam đã nhận thức được rằng, họ không thể mãi sống trong một thể chế lạc hậu đã bao năm đưa đến đói nghèo và bất hạnh, và, mơ ước lớn nhất của họ là được sống trong một xã hội dân chủ.
Những tù nhân lương tâm đang ngày đêm khổ đau trong chốn lao tù, những cuộc biểu tình uất nghẹn chống Red China, những trang mạng được nhiều người tìm đọc là Bauxite Việt Nam và Ba Sàm là biểu hiện sinh động của mơ ước ấy.
Vậy, tại sao trong giai đoạn này Việt Nam vẫn không có một Thiên An Môn?
Tích sóng
Con sóng mạnh bao giờ cũng phải tích lũy năng lượng. Theo qui luật này, con sóng Thiên An Môn của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tích lũy năng lượng để có thân sóng dài, chân sóng rộng, đỉnh sóng cao và bước sóng dài vô tận. Có thể con sóng này chỉ xuất hiện một lần, và nhấn chìm tất cả bọt bèo.
Nhưng, quan trọng nhất, nguyên nhân đến từ phía chính quyền. Không thể phủ nhận một thực tế rằng, trong nhiều năm qua, chính quyền Việt Nam đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển dân chủ ở Việt Nam bằng các biện pháp kiên quyết và tàn độc. Chính quyền triệt để ngăn cấm và đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa, dùng các biện pháp hạ tiện và lưu manh để khống chế và phá vỡ các mối liên kết của những người khát khao dân chủ. Một lần nữa, chính quyền lại thắng và người dân lại thua, khác với các thể chế dân chủ là người dân luôn luôn thắng và chính quyền luôn luôn thua.
Bên cạnh đó, để đàn áp khát vọng dân chủ, chính quyền Việt Nam đã mua chuộc sự trung thành của các lực lượng chuyên chế như công an, quân đội bằng cách ban phát cho hai lực lượng này các đặc quyền đặc lợi khủng khiếp. Nhà nước Việt Nam cũng tiến hành mua chuộc sự trung thành của giới công chức bằng cách làm ngơ hoặc xử lý nhẹ các hành vi nhũng nhiễu và tham nhũng của giới này. Nhà nước Việt Nam còn áp dụng biện pháp chống “diễn biến hòa bình” có một không hai trên thế giới là tạo ra những lực lượng bán chuyên nghiệp có các chức năng không rõ ràng như tổ khu phố, thanh niên tình nguyện, lực lượng dân phòng, lực lượng quản lý đô thị, lực lượng dư luận viên….Tất cả các lực lượng nàyvốn ngốn ngân sách mạnh như ngựa hủy diệt đồng cỏ, thực sự là nỗi ám ảnh, mối đe dọa với những người khát khao dân chủ.
Việt Nam chưa có một Thiên An Môn trong quá khứ và trong hiện tại không đồng nghĩa với Việt Nam sẽ không có một Thiên An Môn trong tương lai. Có lẽ, cơn bão đang đến gần. Có lẽ, con sóng lừng đáng sợ nhất đang ngày đêm miệt mài tích lũy năng lượng để có thân sóng dài nhất, chân sóng lớn nhất, đỉnh sóng cao nhất và bước sóng dài nhất để có thể quét sách mọi rác rưởi.
Cơn bão ấy, con sóng ấy đang được định hình trong những phong trào dân oan đòi đất, trong những người tù nhân lương tâm đã không nuối tiếc tự do của mình, trong những mảnh đời bần hàn và bất hạnh, trong những cuộc biểu tình ngắn ngủi chống Red China để thoát Cộng, trong những trang web lừng danh như Ba Sàm – Bauxit Việt Nam mỗi ngày thu hút hàng triệu lượt truy cập, trong những facebooker đang ngày đêm miệt mài truyền đi những thông tin nóng bỏng từ Hongkong, trong những ước muốn khôn nguôi đòi hỏi phải hiện thực hóa các quyền lợi cơ bản của con người.
* Tác giả gửi bài trực tiếp cho VNTB
Bạn trẻ Việt nam đến từ Australia, Nguyễn Hoàng Thanh Tâm phát biểu lúc 8:30 tối 02/10 tại Hongkong: "today Hongkong, tomorrow Vietnam".
25 năm trước và 25 năm sau
Hơn 25 năm trước, trên quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc đã diễn ra một sự kiện làm rung chuyển thế giới. Sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc mãi mãi là khúc ca bi tráng về khát vọng tự do, dân chủ của nhân dân Trung Quốc nói chung, và của tầng lớp trí thức-sinh viên Trung Quốc nói riêng. Nếu một ngày nào đó, dân chủ và tự do được thiết lập ở Trung Quốc, cần minh xác một điều rằng, chính sự kiện Thiên An Môn là tác nhân quan trọng đầu tiên xác lập thiết chế dân chủ và tự do đó.
Hơn 25 năm sau, tại Hongkong- một lãnh thổ của Trung Quốc được thu hồi về vào năm 1997, một vùng đất tô nhượng vốn được chính quyền Anh quốc thiết lập một nền dân chủ đầy đủ, đang diễn ra một sự kiện Thiên An Môn thứ hai để bảo vệ các giá trị tự do và dân chủ cao cả của Hongkong, để chống lại các áp đặt độc tài chuyên chế tàn bạo của chính quyền cộng sản Bắc Kinh. Cuộc chiến dai dẳng giữa khát vọng nhân bản và ước muốn phi nhân vẫn chưa có hồi kết, nhưng những khuôn mặt trẻ măng đầy thánh thiện ở Hongkong, những dải ruy băng vàng rực trên xứ sở có truyền thống dân chủ và tự do này đã mang lại cho Hongkong, cho chính nhân dân Trung Quốc, cho chính nhân dân Việt Nam những niềm hi vọng về tương lai dân chủ.
Tại sao Việt Nam?
Hôm qua Trung Quốc, hôm nay Hongkong, ngày mai Việt Nam? Rất nhiều người dân Việt Nam đang hỏi thầm mình như vậy, hỏi nhau như vậy. Hỏi và hi vọng, và chờ đợi. Trong hi vọng và chờ đợi nhiều câu hỏi đã này sinh.
Tại sao Việt Nam, một đất nước, một chính thể có rất nhiều nét tương đồng với Trung Quốc chuyên chế lại chưa nổ ra một sự kiện Thiên An Môn tương tự? Và, bao giờ Việt Nam bùng phát một Thiên An Môn long trời lở đất để có thể dẫn đến một sự thay đổi tích cực?
Đối với câu hỏi thứ nhất, không thể dùng các luận thuyết ưu việt của thể chế dân chủ để trả lời. Việt Nam trong thời hiện đại có những hoàn cảnh lịch sử éo le và bi đát hơn Trung Quốc láng giềng, và xa hơn là các nước tuân theo ý thức hệ cộng sản ở Đông Âu. Vì thế chỉ có thể giải đáp câu hỏi thứ nhất bằng chính những hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.
Giai đoạn trước năm 1975, trong khi người dân miền Nam Việt Nam đã được thụ hưởng những thành quả đầu tiên của nền dân chủ sơ khai, thì nhân dân miền Bắc Việt Nam với não bộ được tẩy xóa đậm đặc vẫn tuyệt đối tin tưởng vào ánh hào quang của chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến bách thắng, vào ảo vọng của những huyền thoại vu vơ. Dưới sự lãnh đạo và cai trị cứng rắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người dân miền Bắc Việt Nam quá bận bịu với cuộc chiến ý thức hệ – cuộc nội chiến Bắc – Nam, họ hoàn toàn không bận bịu về các giá trị tự do và dân chủ. Một Thiên An Môn đã không diễn ra ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975 là một điều dễ hiểu.
Năm 1975, sau khi miền Bắc đánh bại thể chế dân chủ miền Nam, Việt Nam bước vào một thời kỳ khổ đau không kém các đau khổ quằn quại trong cuộc chiến vừa chấm dứt không lâu. Giai đoạn này có thể được phân ra 10 năm với mốc 1976-1986. Với sự giáo điều mù quáng của lý luận Marx-Lenin, với sự cứng rắn đến cực đoan và tàn bạo, chính thể cộng sản Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp phi nhân trên toàn miền Nam như thực hiện chính sách cải tạo, đánh tư sản và xóa tan các định ước kinh tế thị trường đầy sức sống để thay vào đó bằng nền kinh tế tập thể-nhà nước vô trách nhiệm. Các đau đớn và quằn quại liên tiếp xuất hiện, bất hạnh nối tiếp bất hạnh.
Nhưng, một Thiên An Môn vẫn không xuất hiện trên toàn cõi Việt Nam. Vì sao? Vì, đối với những người cộng sản và những người có liên quan mật thiết đến cộng sản ở Việt Nam, họ vẫn còn bị huyễn hoặc về các chiến thắng chống Pháp, chống Mỹ, chống PolPot và Khmer đỏ, chống bành trướng Trung Quốc. Các chiến thắng đó với sự tô vẽ và tô hồng của một bộ máy tuyên truyền khổng lồ đã làm cho đa phần người dân Việt Nam, nhất là người dân miền Bắc vẫn có một niềm tin lớn vào lý tưởng cộng sản, tin vào các giá trị và phẩm chất của Đảng Cộng sản Việt Nam dù nhiều người dân, nhiều trí thức đã phần nào nhận ra những sai lầm của đảng cộng sản, nhưng đối với họ đó là những sai lầm mang tính nhất thời và giai đoạn.
Nhưng, trong giai đoạn 1976-1986 này, nhiều người dân miền Nam Việt Nam đã nhận thức đúng đắn về những cay đắng mà chính thể cộng sản đã mang đến cho họ. Họ đã phản kháng bằng những cuộc di cư bi phẫn và đau đớn, đó là phong trào thuyền nhân – vượt biên bi thảm nhất của nhân loại với khoảng 700 ngàn người chết đói – chết khát và chết đuối trên biển. Cuộc di cư bi phẫn đi tìm tự do và dân chủ chứ không phải đi tìm những ham muốn đời thường và bản năng đã làm cho thế giới văn minh bàng hoàng và chính thể Việt Nam bối rối.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự hả hê của những người sở hữu súng đạn và sự buồn đau của những người sở hữu khát vọng tự do dân chủ đã không thể trở thành đồng minh để có thể làm nên một Thiên An Môn.
Giai đoạn 1987-1993 ở Việt Nam là buổi giao thời đầy dông bão. Đa phần người dân Việt Nam tin tưởng vào công cuộc cải tổ và đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Kết quả bước đầu của công cuộc đổi mới đã phần nào xoa dịu vết thương lòng của người dân. Từ đói khổ cùng cực, người dân đã có đủ miếng cơm tấm áo, họ tạm thời quên đi những cay đắng tột cùng do ý thức hệ cộng sản mang lại, họ tạm hài lòng với cuộc sống.
Nhưng trong giai đoạn này ở Việt Nam, ý thức phản kháng, ý thức phản tỉnh của người dân Việt Nam đã tăng lên đáng kể bằng các phương thức bất mãn, yếm thế và trào lộng. Trong giai đoạn này đã ghi nhận sự phản kháng mang tính hệ thống và khoa học của một trào lưu tư tưởng mới mẻ thể hiện qua các bài viết, bài nói chuyện được lưu hành và lưu truyền bí mật của các nhà cấp tiến Trần Phương, Trần Độ, Nguyễn Minh Cần, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Hộ, Hà Sĩ Phu… Những con người dũng cảm này sẵn sàng chia tay ý thức hệ, sẵn sàng dắt tay nhau đi dưới ánh sáng chỉ đường của ngọn cờ trí tuệ (mượn chữ của Hà Sĩ Phu). Đây là buổi giao thời của nhận thức, của những định đoán về giá trị thực sự của dân chủ tự do và chủ nghĩa cộng sản. Có vẻ như, trong giai đoạn này, tầng lớp tinh hoa của Việt Nam đã nhận thức được rằng, dân chủ là đích đến của loài người nói chung và Việt Nam nói riêng trong khi đại đa số người dân Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng cho một cuộc chia tay ý thức hệ. Vì lẽ trên, một Thiên An Môn đã không diễn ra.
Trong giai đoạn 1994-2005, Việt Nam có những thành tựu to lớn, vượt bậc về phát triển kinh tế với tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức cao, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) đạt mức cao và hợp lý, thu nhập bình quân trên đầu người tăng mạnh…., đã phần nào làm dịu lại mọi hoài nghi về bản chất của chủ nghĩa cộng sản và nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về vai trò độc tài-độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhưng sự hội nhập quốc tế đã mở toang cánh cửa nhận thức. Trong giai đoạn này, người dân Việt Nam lần đầu tiên được mở rộng tầm nhìn qua các chuyến xuất ngoại (theo dạng du lịch, thăm thân nhân, giao thương….) đã tự nhiên đặt ra nhiều câu hỏi: Tại sao Việt Nam lại quá nghèo so với Thailand, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore lân cận, chưa kể là quá nghèo và bất hạnh so với Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản. Thực tiễn sống động đã đưa đến cho người dân Việt Nam một nhận thức quan trọng: chỉ có giá trị và phẩm chất của thể chế dân chủ mới tạo nên sự thịnh vượng, hạnh phúc và hùng mạnh, còn ảo tưởng chủ nghĩa cộng sản-chủ nghĩa xã hội chỉ đưa đến đói nghèo-bất hạnh và đau đớn.
Nhưng, Thiên An Môn của Việt Nam vẫn không xảy ra trong giai đoạn này vì nhận thức chân lý diễn ra không đồng đều giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng dân số địa lý Bắc – Nam, vì các chính sách “bàn tay sắt” được lồng ghép thâm độc với các trò mị dân của chính quyền, vì sự hài lòng với hiện trạng no ấm của người dân.
Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2014, Việt Nam sôi sục trong các vấn đề kinh tế-chính trị và xã hội. Về kinh tế, hết sức bất ổn với tăng trưởng GDP thấp, lạm phát cao, thu nhập bình quân trên đầu người giảm xuống thấp, tiêu thụ sụt giảm mạnh. Tình trạng xã hội có nhiều bất an, tội phạm tàn độc tăng trưởng đột biến, tham nhũng tràn lan, khoảng cách giàu nghèo được kéo dãn vô cùng. Về chính trị, có vẻ như nhà cầm quyền đã phần nào nhận thấy sự lúng túng về phương pháp luận của một ý thức hệ đã lỗi thời kéo theo đó là sự xung khắc của các nhóm quyền lực, các nhóm lợi ích, các nhóm cấp tiến và bảo thủ… Lòng người Việt Nam xáo động và bất an hơn bao giờ hết.
Trong giai đoạn này, sự phát triển như vũ bão của các công nghệ mới, của Internet, của các mạng truyền thông xã hội đã có tác động tích cực đến nhận thức của người dân, từ tinh hoa đến cấp tiến và phần nào là tầng lớp bình dân. Thực tại cuộc sống khó khăn trăm bề và nhận chân giá trị về dân chủ-cộng sản đã tạo nên những giá trị mới, những đòi hỏi mới về dân sinh-dân chủ-dân quyền-thoát Trung-thoát Cộng. Người dân Việt Nam đã nhận thức được rằng, họ không thể mãi sống trong một thể chế lạc hậu đã bao năm đưa đến đói nghèo và bất hạnh, và, mơ ước lớn nhất của họ là được sống trong một xã hội dân chủ.
Những tù nhân lương tâm đang ngày đêm khổ đau trong chốn lao tù, những cuộc biểu tình uất nghẹn chống Red China, những trang mạng được nhiều người tìm đọc là Bauxite Việt Nam và Ba Sàm là biểu hiện sinh động của mơ ước ấy.
Vậy, tại sao trong giai đoạn này Việt Nam vẫn không có một Thiên An Môn?
Tích sóng
Con sóng mạnh bao giờ cũng phải tích lũy năng lượng. Theo qui luật này, con sóng Thiên An Môn của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tích lũy năng lượng để có thân sóng dài, chân sóng rộng, đỉnh sóng cao và bước sóng dài vô tận. Có thể con sóng này chỉ xuất hiện một lần, và nhấn chìm tất cả bọt bèo.
Nhưng, quan trọng nhất, nguyên nhân đến từ phía chính quyền. Không thể phủ nhận một thực tế rằng, trong nhiều năm qua, chính quyền Việt Nam đã thành công trong việc ngăn chặn sự phát triển dân chủ ở Việt Nam bằng các biện pháp kiên quyết và tàn độc. Chính quyền triệt để ngăn cấm và đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa, dùng các biện pháp hạ tiện và lưu manh để khống chế và phá vỡ các mối liên kết của những người khát khao dân chủ. Một lần nữa, chính quyền lại thắng và người dân lại thua, khác với các thể chế dân chủ là người dân luôn luôn thắng và chính quyền luôn luôn thua.
Bên cạnh đó, để đàn áp khát vọng dân chủ, chính quyền Việt Nam đã mua chuộc sự trung thành của các lực lượng chuyên chế như công an, quân đội bằng cách ban phát cho hai lực lượng này các đặc quyền đặc lợi khủng khiếp. Nhà nước Việt Nam cũng tiến hành mua chuộc sự trung thành của giới công chức bằng cách làm ngơ hoặc xử lý nhẹ các hành vi nhũng nhiễu và tham nhũng của giới này. Nhà nước Việt Nam còn áp dụng biện pháp chống “diễn biến hòa bình” có một không hai trên thế giới là tạo ra những lực lượng bán chuyên nghiệp có các chức năng không rõ ràng như tổ khu phố, thanh niên tình nguyện, lực lượng dân phòng, lực lượng quản lý đô thị, lực lượng dư luận viên….Tất cả các lực lượng nàyvốn ngốn ngân sách mạnh như ngựa hủy diệt đồng cỏ, thực sự là nỗi ám ảnh, mối đe dọa với những người khát khao dân chủ.
Việt Nam chưa có một Thiên An Môn trong quá khứ và trong hiện tại không đồng nghĩa với Việt Nam sẽ không có một Thiên An Môn trong tương lai. Có lẽ, cơn bão đang đến gần. Có lẽ, con sóng lừng đáng sợ nhất đang ngày đêm miệt mài tích lũy năng lượng để có thân sóng dài nhất, chân sóng lớn nhất, đỉnh sóng cao nhất và bước sóng dài nhất để có thể quét sách mọi rác rưởi.
Cơn bão ấy, con sóng ấy đang được định hình trong những phong trào dân oan đòi đất, trong những người tù nhân lương tâm đã không nuối tiếc tự do của mình, trong những mảnh đời bần hàn và bất hạnh, trong những cuộc biểu tình ngắn ngủi chống Red China để thoát Cộng, trong những trang web lừng danh như Ba Sàm – Bauxit Việt Nam mỗi ngày thu hút hàng triệu lượt truy cập, trong những facebooker đang ngày đêm miệt mài truyền đi những thông tin nóng bỏng từ Hongkong, trong những ước muốn khôn nguôi đòi hỏi phải hiện thực hóa các quyền lợi cơ bản của con người.
Tưởng thằng anh to béo tài giỏi thế nào?
Trả lờiXóaVề trình bóp mồm bịt miệng thủ đoạn đê hèn còn kém xa thằng em
Lược Trình Diễn Biến Hong kong Occupy Central
Trả lờiXóaKể từ thứ Sáu, đám đông khổng lồ người biểu tình đã tụ tập bất bạo động phía trước của văn phòng Chính phủ qua trung tâm thành phố Hồng Kông trong một nỗ lực đòi đóng cửa các văn phòng này - hoặc ít nhất cản trở doanh nghiệp – tại một trong những trung tâm tài chính quan trọng nhất châu Á.
.Đúng ra aii làm điều này ?
Chuyện khá phức tạp,không dễ trả lời. Ban đầu các cuộc biểu tình do một nhóm tự xưng” Chiếm Trung ương bằng tình yêu và hòa bình” Occupy Central with Love and Peace. Ngay sau khi cuộc biểu tình bắt đầu – lúc dầu được dự kiến khời sự vào thứ tư , nhưng đã được xảy ra trươc gần một tuần - nhóm đầu tiên đã bắt đầu phối hợp với nhóm sinh viên thu hút số lượng nhiều người tham gia hơn. Tuy nhiên trong quá trình cuối tuần phong trào dường như đã trở thành phần nào được phân tán hoặc và bây giờ mọi người từ tất cả các tầng lớp xã hội Hồng Kông dều tham gia.. Bây giờ câu hỏi lớn - tại sao họ phản đối?
Toàn bộ sự việc này thực sự có nguồn gốc cơ sở của nó i vào năm 1842.
Vào năm 1842i. Hơn 170 năm trước đây. Đó là năm mà Đế quốc Anh đầu tiên đã qua Hồng Kông và thiết dạt chế dộ thuộc địa ,chiếm hữu thuộc địa này kéo dài khoảng 150 năm cho đến năm 1997.Do thỏa thuận năm 1984 giữa Anh và Trung Quốc, vào ngày 01 Tháng 7 năm 1997, quyền kiểm soát Hồng Kông được trao lại cho Trung Quốc, tên pháp lý đầy đủ là đặc khu hành chính Hong Kong thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.Dưới sự cai trị của Anh trong 150 năm qua – người ta chứng kiến những tiến bộ lớn nhất về công nghệ và xã hội trong lịch sử loài người - Nhiều sự việc và hệ thống ăn sâu bén rễ vào dời sống xã hội bản địa.Chế độ Cai trị của Anh là không hẳn độc tài toàn trị, vì vậy một số quyền tự do dân sự trở thành chuẩn mực trong Hồng Kông - những thứ như Tự do Ngôn luận, Tự do báo chí, tự do lập hội và Tự do Tôn giáo là một phần sinh hoạt Hồng Kông chịu ảnh hưởng của văn hóa Anh. Thật không may, những giá trị này không phải là 100% đươc Nhà nước Cộng sản Trung Quốc.chia sè Vì vậy, theo thỏa thuận chuyển giao, Hong Kong đã triển khai một điều khoản gọi là Luật cơ bản dảm bảo cho người dân Hồng kông nhửng quyền này cho đến ít nhất là 2047 – coi dó thư môi bản hiến pháp nhỏ. a mini-Constitution Hệ thống xã hội được gọi là chế độ "Một quốc gia, hai chế độ"; về chủ quyền,thì thuộc Trung Quốc, nhưng xây dựng xã hội của họ vẫn còn duy nhất chịu ảnh hưởng của Anh Những vấn đề phát sinh ở đây theo hai hướng. Thứ nhất, Trung Quốc đã đặc biệt dựa vào diểu khoản "một quốc gia" . Quân của Quân đội Giải phóng Nhân dân - tức là lực lượng vũ trang Trung Quốc Nhà nước - được đóng tại các doanh trại quân đội Anh cũ.
Các vấn đề khác nằm ở thực tế là Luật Cơ bản của Hồng Kông cho phép cư dân cảm nhận như dược hưởng các quyền dân chư, nhưng TQ lại không nghĩ thết. Và TQ bát dầusiết chặt vòng kiểm soát.
(Còn Tiếp)....
Tiếp theo và hết
Trả lờiXóaHồng Kong không phải là một vùng đất dân chủ?
Không. Cư dân HK. không bao giờ thực sự có được trọn vẹn quyền dân chủ . Trong thời gian cai trị của Anh, thống đốc thuộc địa là người lãnh đạoTỉnh, và do London bổ nhiệm . Kể từ khi bàn giao cho Trung Quốc, một giám đốc điều hành(Trưởng đạc khu hành chánh ) của Hồng Kông, a Chief Executive đã được bổ nhiệm làm đại diện của Bắc Kinh. Các vấn đề phức tạp với hệ thống này là vị giám dôc diều hành được bổ nhiệm thông qua một cuộc bầu cử.
Bạn nên biết rằng cuộc bầu cử chỉ được thực hiện bởi một "Ủy ban bầu cử" đặc biệt gồm một nhóm người khoảng 1200 người mà thôi , và, tuyệt dại đa số là những người trung thành với Trung Quốc,do Bắc Kinh cử nhiệm . Vì vậy, các Giám đốc điều hành luôn được Bắc Kinh chấp thuận. Điều này gây bức xúc cho những người ủng hô dqa6n chủ. Tuy nhiên, Trung Quốc, là lại muốn bầy dặt trò “XIN CHO,Quôc Hội TQ vào năn 2007 ban hành một dạo luật rằng lãnh dạo Hồng Kong phải do dân bầu ra ,trong một cuộc phổ thong bầu phiếu , mỗi người một lá phiếu .Mô hình do Bắc Kinh đề xuất đã được phê duyệt - sẽ có hiệu lực từ cuộc bầu cử vào năm 2017 - liên quan đến việc dân Hồng Kông bầu chọn Giám đốc điều hành trực tiếp, quá trình đề cử đòi hỏi một cái gì đó gọi là một "ủy ban đề cử đại diện rộng rãi." Vì vậy, thành phần dược đề cử vẫn còn phải là những người dược Bắc Kinh hậu thuẫn : Ba ứng cử viên được lựa chọn, phải dạt dược da số phiếu bầu của ủy ban tuyển lựa.Ủy ban này lại do Bác Kinh chỉ , cư dân HK quanh quần chỉ dược lưa một trong ba ứng viên thân Bắc Kinh mà thôi ..
Các phong trào Chiếm Trung ương đã kêu gọi Giám đốc điều hành hiện tại của Hồng Kông, Lương Chấn Anh từ chức, và Bắc Kinh cho phép người dân Hồng Kông tự do và độc lập đề cử và bầu cử lãnh đạo của mình. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã không ngăn cản, khi sử dụng phương pháp bất tuân dân sự đấu tranh hòa bình như kiểu Henry David Thoreau và Tiến sĩ Martin Luther King, Jr - bắt đầu dàn dựng các cuộc biểu tình bất bạo động phát triển tới mức bạn nhìn thấy ngày hôm nay.
Vấn dề sẽ ra sao thì chưa ai biết –vào thời diểm này -. Dường như có hai lựa chọn, và không phải là những kết quả tốt dẹp cho Chính phủ Cộng sản và Tập Cận Bình. MỘt là bãi bỏ dạo luật dã ban hành về bầu cử của Hông Kông , đàm phán lại với cư dân Hồng Kông,hoạc là chỉ đơn giản cho phép họ tiến trình bầu cử dân chủ theo họ muốn. Lựa chọn này khiến Chủ tịch Trung Quốc có vẻ yếu thế, đó là một kết quả tai hại dối với các nhà lãnh đạo của một quốc gia Cộng sản
Các lựa chọn khác là giải tán những người biểu tình bằng bqa5o lực , triển khai cảnh sát chống bạo động của Hồng Kông, hoặc bằng cách gửi Quân đội Giải phóng Nhân dân tới . Nếu lựa chọn này được sử dụng và tình trạng diễn ra tồi tệ , các phương tiện truyền thông toàn cầu và tính chất giả độc lập của Hồng Kông khiến cho thế giới coi Chính phủ Trung Quốc gây ra một sự cố đẫm máu Thiên An Môn dối với người dân của mình - lần này khó che dấu dược thành tích xấu xa mình hơn biến cố1989..
., Chính phủ Trung Quốc chưa chịu đàm phán, nhưng đám đông ngày càng tăng tại Hồng Kông từ chối “nhúc nhích”. -Đển bây giờ, hoặc ít nhất là trong thời gian ngắn tới, căng thẳng cực dộ vẫn n giữ dược thế cân bằng , - dù rất mong manh -như “ như sợi chỉ .
. Nguồn: SMH, NY Times, Wall Street Journal