(VNTB)-Hiến pháp Việt Nam: Vì dân hay xa dân? (Bài 3)

Nói và làm là hai chuyện khác nhau?   (VNTB)  Đoạn mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã dẫn những lời bất hủ trong bản T...

Nói và làm là hai chuyện khác nhau?

 (VNTB) Đoạn mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã dẫn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; và “những lẽ phải không ai chối cãi được” trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.


Từ quyền con người cơ bản, chủ quyền nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành quyền dân tộc tự quyết: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên bố chủ quyền thuộc về nhân dân

Trong một hiến pháp bất kỳ, hai nguyên tắc quan trọng nhất phải quan tâm quy định là nguyên tắc chủ quyền nhân dân và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi vì, hiến pháp là bản khế ước của nhân dân, vì thế trước hết nó phải thể hiện chủ quyền nhân dân. Bản khế ước này đồng thời phải là văn bản giao quyền cho nhà nước và quy định nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước.

Như vậy, trong một số phát biểu, cả trên các phương tiện truyền thông, có nhầm lẫn rằng Hiến pháp là bản khế ước giữa Nhân dân và Nhà nước. Nói như vậy thì chủ quyền không chỉ của Nhân dân mà cả của Nhà nước. Đúng ra, nguồn gốc duy nhất của quyền lực nhà nước là Nhân dân nên chủ quyền chỉ thuộc về Nhân dân và trong một số lĩnh vực Nhân dân trao quyền cho Nhà nước làm đại diện.

“Điều 6. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.

Điểm mới ở đây là ngoài hình thức dân chủ đại diện (Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân) còn có dân chủ trực tiếp, và đặt dân chủ trực tiếp lên trước dân chủ đại diện. Tiếp tục cụ thể hoá Điều 6 về các hình thức thực hiện dân chủ, Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 54 cũ) ghi nhận quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân. Điều 28 Hiến pháp 2013 (sửa đổi, bổ sung Điều 53 cũ) quy định: “1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.



Hiến pháp do dân định

Điểm đáng ghi nhận là Hiến pháp 2013 đã tách quyền của công dân “biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” từ Điều 53 cũ thành Điều 29 riêng. Như vậy có thể thấy rằng trong Hiến pháp 2013, nguyên tắc chủ quyền nhân dân được ghi nhận trang trọng, rõ ràng, mạch lạc phù hợp với trình độ pháp lý hiện đại và yêu cầu dân chủ, bởi vì: Một là, đó là sự kế thừa những quy định của Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta - Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo xây dựng. Đây là một Hiến pháp ít lời nhưng ghi nhận vô cùng trang trọng nguyên tắc chủ quyền nhân dân với quyền phúc quyết của nhân dân rất pháp lý, rõ ràng, mạnh mẽ, thì kinh nghiệm trên càng trở nên vô cùng thời sự.

Hai là, trong bối cảnh thế giới hiện đại, khi dân chủ đã là trào lưu và yêu cầu dân chủ trong nước đã trở thành bức thiết, nhất là từ khi bước sang thế kỷ 21, thì không thể né tránh việc ghi nhận nguyên tắc chủ quyền nhân dân một cách pháp lý, rõ ràng, mạnh mẽ với quyền thực hiện biểu quyết toàn dân.

Ở tham luận “Nội dung về một nhà nước của dân, do dân, vì dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bộ máy hành pháp” trong “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật”, Kỷ yếu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX-02-03, Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Hà Nội, 1993, trang 184-185, nhắc những lời của ông Vũ Đình Hoè, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Nhà nước Việt Nam thời còn non trẻ, nói khi ban hành Hiến pháp 1946: “Hiến pháp “dân định”, chứ không phải Hiến pháp “khâm định”; không phải ai “ban” cho, mà do dân giành lấy.

Hiến pháp do Quốc dân đại hội, Quốc hội ban hành, một Quốc hội đặc biệt - Quốc hội lập hiến - chỉ sửa đổi Hiến pháp thôi thì Nghị viện nhân dân còn phải hội đủ phiếu thuận của ít nhất 2/3 số đại biểu có mặt (theo Điều 70 - Hiến pháp 1946). Đồng thời trước khi ban bố, Nghị viện phải tổ chức cho toàn dân “phúc quyết”. Vì lập Hiến pháp và sửa Hiến pháp là thuộc “những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” (theo Điều 32)”.



Nói và làm là hai chuyện khác nhau?

Với những nhìn nhận kể trên, liệu đã có thể nói rằng, hạt giống dân chủ - chủ quyền nhân dân được ươm mầm từ Hiến pháp 1946, đến Hiến pháp 2013, bắt đầu đơm hoa, kết trái? Câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ với nhiều nghi vấn vì mãi cho đến nay những điều chỉnh pháp luật để đồng bộ với Hiến pháp vẫn còn là chuyện chờ và đợi.

Đơn cử, “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. (Trích Điều 20.2 Hiến pháp 2013). Lưu ý ở đây là cụm từ “do luật định” chứ không phải là “pháp luật”. Vì luật do Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân ban hành mới thể hiện đầy đủ ý chí của nhân dân, còn pháp luật thì bao gồm cả quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trên thực tế, Điều 20.2 dường chừng vẫn là điều xa xỉ…

Minh Tâm

Bài viết thể hiện quan điểm và phong cách riêng của tác giả.

Related

pháp-quyền 4934942425104627400

Đăng nhận xét

emo-but-icon

Đến với IJAVN

Tiêu Điểm

Tin đọc nhiều

Comment

Chuyện nghề

Theo dõi chúng tôi

item