Hiến pháp Việt Nam: Vì dân hay xa dân? (Bài 2)
Quyền công dân: Bằng luật chứ không phải văn bản dưới luật (VNTB) Hiến định “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”, nguyên tắc s...
https://itdl-flatnews.blogspot.com/2014/07/hien-phap-viet-nam-vi-dan-hay-xa-dan.html
Quyền công dân: Bằng luật chứ không phải văn bản dưới luật
(VNTB) Hiến định “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”, nguyên tắc suy đoán vô tội (người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật) được Hiến pháp 2013 tái khẳng định qua việc cụ thể hóa cho bổ sung nội dung “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm” nhằm nhấn mạnh và đảm bảo cho nguyên tắc “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” phải được thực thi trong thực tiễn xét xử.
Quyền con người, quyền công dân
Điểm nổi bật của Hiến pháp sửa đổi được thể hiện nhiều ở Chương II quy định về phạm trù quyền con người. Theo đó, quyền con người đồng nghĩa với quyền công dân. Hiến pháp sửa đổi quy định tại Điều 12 Chương I là: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn công ước quốc tế về nhân quyền. Với nguyên tắc đó, trong bản Hiến pháp mới, vấn đề quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân đặt ở Chương II.
Trong Hiến pháp sửa đổi, khi nói đến quyền con người thì dùng từ “mọi người”, khi nói đến công dân Việt Nam thì dùng từ “công dân”. Điều 14 Chương II, khẳng định: “Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.
Đó là những quyền tự nhiên, phải được thừa nhận, tôn trọng, tạo điều kiện thực hiện và bảo vệ quyền đó. Cũng tại Điều 14, khoản 2 nói rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Như vậy, Hiến pháp sửa đổi quy định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân dứt khoát phải quy định bằng Luật, không phải bằng văn bản dưới luật. Ví dụ quyền tự do biểu tình, khi Hiến pháp quy định biểu tình là quyền tự do của người dân, thì người dân có quyền tham gia biểu tình.
Nói thêm: Tại Hiến pháp sửa đổi, Điều 25 quy định rõ công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Như vậy, những quyền mặc nhiên này đã được hiến định để không ai có thể hạn chế.
Mọi người có quyền sống
Hiến pháp sửa đổi quy định quyền có quốc tịch. Đây cũng là quyền quan trọng mà Hiến pháp trước đây chưa quy định rõ. Trong quan hệ hội nhập ngày càng sâu rộng, người Việt Nam định cư nước ngoài và người nước ngoài sống ở Việt Nam thì vấn đề quốc tịch được xác định ở Điều 17 là: “Công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Quốc tịch thể hiện chủ quyền, quyền lực và quan hệ giữa Nhà nước với người dân. Đây là quy định hết sức quan trọng.
Hiến pháp sửa đổi có quy định: “Mọi người có quyền sống”. Quyền sống là quyền tự nhiên không phải Nhà nước quy định. Do vậy, việc tước đoạt sinh mạng sống phải theo quy định của Luật và cụ thể là Bộ Luật hình sự, trong đó quy định tội có mức án tử hình thì mới có quyền tước đoạt sinh mạng sống. Hiến pháp sửa đổi cũng quy định các quyền chính trị, quyền tham gia bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội…
Trong Hiến pháp 2013 quy định rất rõ, mọi người có quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Tức là, tất cả mọi người bình đẳng trước pháp luật từ lĩnh vực chính trị-kinh tế, văn hóa, xã hội.
Chương về quyền con người trong Hiến pháp có quy định mọi người có quyền được hưởng phúc lợi, bảo trợ xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa bằng các luật như: Luật Lao động, Luật Việc làm; hướng tới không phải chỉ cán bộ công chức khi thất nghiệp mới được hưởng trợ cấp mà toàn dân đều có quyền được trợ cấp, nếu người dân lâm vào tình trạng thất nghiệp, thì Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm. Đó là tinh thần rất mới mà trước đây chưa được thể hiện cụ thể.
Liên quan về “quyền con người”, với vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, giờ đây tòa không chỉ đơn thuần là cơ quan xét xử mà cần phải được giao quyền phán quyết đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật, kể cả các vi phạm hành chính. Đồng thời, tòa phải có vai trò giám sát hoặc quyết định việc áp dụng các biện pháp có tính chất hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình xử lý các vụ việc của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án…
Cụ thể, các lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét thân thể, thư tín, kê biên tài sản và các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cưỡng chế khác phải được tòa xem xét, phê chuẩn hoặc quyết định. Có như vậy mới có thể khắc phục, hạn chế được tình trạng oan, sai trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và trong xử lý các vi phạm hành chính.
Minh Tâm
Bài viết thể hiện quan điểm và phong cách riêng của tác giả.
(VNTB) Hiến định “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”, nguyên tắc suy đoán vô tội (người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật) được Hiến pháp 2013 tái khẳng định qua việc cụ thể hóa cho bổ sung nội dung “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm” nhằm nhấn mạnh và đảm bảo cho nguyên tắc “thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” phải được thực thi trong thực tiễn xét xử.
Quyền con người, quyền công dân
Điểm nổi bật của Hiến pháp sửa đổi được thể hiện nhiều ở Chương II quy định về phạm trù quyền con người. Theo đó, quyền con người đồng nghĩa với quyền công dân. Hiến pháp sửa đổi quy định tại Điều 12 Chương I là: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn công ước quốc tế về nhân quyền. Với nguyên tắc đó, trong bản Hiến pháp mới, vấn đề quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân đặt ở Chương II.
Trong Hiến pháp sửa đổi, khi nói đến quyền con người thì dùng từ “mọi người”, khi nói đến công dân Việt Nam thì dùng từ “công dân”. Điều 14 Chương II, khẳng định: “Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.
Đó là những quyền tự nhiên, phải được thừa nhận, tôn trọng, tạo điều kiện thực hiện và bảo vệ quyền đó. Cũng tại Điều 14, khoản 2 nói rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Như vậy, Hiến pháp sửa đổi quy định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân dứt khoát phải quy định bằng Luật, không phải bằng văn bản dưới luật. Ví dụ quyền tự do biểu tình, khi Hiến pháp quy định biểu tình là quyền tự do của người dân, thì người dân có quyền tham gia biểu tình.
Nói thêm: Tại Hiến pháp sửa đổi, Điều 25 quy định rõ công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Như vậy, những quyền mặc nhiên này đã được hiến định để không ai có thể hạn chế.
Mọi người có quyền sống
Hiến pháp sửa đổi quy định quyền có quốc tịch. Đây cũng là quyền quan trọng mà Hiến pháp trước đây chưa quy định rõ. Trong quan hệ hội nhập ngày càng sâu rộng, người Việt Nam định cư nước ngoài và người nước ngoài sống ở Việt Nam thì vấn đề quốc tịch được xác định ở Điều 17 là: “Công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Quốc tịch thể hiện chủ quyền, quyền lực và quan hệ giữa Nhà nước với người dân. Đây là quy định hết sức quan trọng.
Hiến pháp sửa đổi có quy định: “Mọi người có quyền sống”. Quyền sống là quyền tự nhiên không phải Nhà nước quy định. Do vậy, việc tước đoạt sinh mạng sống phải theo quy định của Luật và cụ thể là Bộ Luật hình sự, trong đó quy định tội có mức án tử hình thì mới có quyền tước đoạt sinh mạng sống. Hiến pháp sửa đổi cũng quy định các quyền chính trị, quyền tham gia bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội…
Trong Hiến pháp 2013 quy định rất rõ, mọi người có quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Tức là, tất cả mọi người bình đẳng trước pháp luật từ lĩnh vực chính trị-kinh tế, văn hóa, xã hội.
Chương về quyền con người trong Hiến pháp có quy định mọi người có quyền được hưởng phúc lợi, bảo trợ xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa bằng các luật như: Luật Lao động, Luật Việc làm; hướng tới không phải chỉ cán bộ công chức khi thất nghiệp mới được hưởng trợ cấp mà toàn dân đều có quyền được trợ cấp, nếu người dân lâm vào tình trạng thất nghiệp, thì Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm. Đó là tinh thần rất mới mà trước đây chưa được thể hiện cụ thể.
Liên quan về “quyền con người”, với vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, giờ đây tòa không chỉ đơn thuần là cơ quan xét xử mà cần phải được giao quyền phán quyết đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật, kể cả các vi phạm hành chính. Đồng thời, tòa phải có vai trò giám sát hoặc quyết định việc áp dụng các biện pháp có tính chất hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình xử lý các vụ việc của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án…
Cụ thể, các lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét thân thể, thư tín, kê biên tài sản và các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cưỡng chế khác phải được tòa xem xét, phê chuẩn hoặc quyết định. Có như vậy mới có thể khắc phục, hạn chế được tình trạng oan, sai trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và trong xử lý các vi phạm hành chính.
Minh Tâm
Bài viết thể hiện quan điểm và phong cách riêng của tác giả.